Skip Ribbon Commands
Skip to main content
Thứ năm, ngày 08/12/2022

Tổng hợp hỏi đáp Gửi thông tin hỏi đáp

Độc giả: Lê Văn Sỹ - Tam Kỳ, Quảng Nam
sile8x@gmail.com

 Xin chào quý cơ quan chức năng!

Loa phát thanh của xã tôi  mắc gần khu dân cư, mở âm lượng lớn gây ồn ào khó chịu cho những hộ dân ở gần nơi đặt loa, Thời gian  phát 2 buổi/ngày (sáng và chiều), thời lượng phát là 2 giờ/ buổi (từ 5 giờ - 7 giờ ; 15 giờ - 19 giờ), liên tiếp từ thứ hai đến chủ nhật. Nhất là vào buổi sáng sớm, tiếng loa oang oang chói tai làm cho người dân bị đánh thức một cách miễn cưỡng, người già, trẻ nhỏ cần nghỉ ngơi  thêm cũng không sao ngủ được. Học sinh không thể học bài vì tiếng loa ồn ào làm mất tập trung. 

Tôi được biết, ở một số địa phương như Hà Nội, có quy định rõ ràng cụ thể về thời gian, thời lượng, âm lượng cho các cụm loa phát thanh ở khu vực thành thị và nông thôn. Ví dụ như không phát quá 45 phút mỗi buổi, kể cả thời gian tiếp sóng; riêng thứ bảy, chủ nhật không được phát, trừ trường hợp cần thiết, nhưng không được quá 15 phút, v.v..

Hôm trước tôi có nêu vấn đề về quy định cụ thể về thời giian, thời lượng, âm lượng phát thanh của hệ thống loa truyền thanh ở xã phường, là căn cứ theo văn bản nào, quy định nào của Bộ Thông tin và Truyền thông? Để người dân chúng tôi có căn cứ, cơ sở pháp lí để khiếu nại khi bị gây ô nhiễm tiếng ồn. Chứ cấp xã không thể tự ý đặt ra quy định về giờ giấc phát thanh, rồi ngồi ở trụ sở mở hết công suất bắt người dân phải nghe như kiểu tra tấn như vậy được.,

Thời đại công nghệ 4.0, người dân có điều kiện tiếp cận nhiều kênh thông tin đa dạng, phong phú. Người dân có quyền chọn lọc thông tin để tiếp cận theo sở thích cá nhân, như nghe nhạc, xem phim, giải trí,.. chứ không phải như những năm 80 - 90 của thế kỉ trước.

Vì đây là trách nhiệm thuộc lĩnh vực quản lí của Bộ TT&TT, nên chúng tôi cần câu trả lời cụ thể (căn cứ vào các văn bản qui định, hướng dẫn) của Bộ TT&TT, chứ không phải trả lời một cách chung chung.

Tôi mong nhận được phản hồi tích cực từ quý cơ quan.

Xin cảm ơn.

- 24 ngày trước
Trả lời:

Cục Thông tin cơ sở (Bộ Thông tin và Truyền thông) giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Tiếp theo nội dung đã trả lời trước đây, Cục Thông tin cơ sở cung cấp thêm các căn cứ pháp lý liên quan đến hoạt động của đài truyền thanh cấp xã như sau:

1. Về thời gian, thời lượng của đài truyền thanh xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Quảng Nam hiện đang được quy định tại Quyết định số 31/2014/QĐ-UBND ngày 20/10/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của đài truyền thanh cơ sở trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, cụ thể:

“Điều 6: Nhiệm vụ và quyền hạn:

Tiếp âm, tiếp sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh, Đài Truyền thanh - Truyền hình huyện vào các buổi sáng, trưa, chiều.

Điều 8: Tiếp âm, phát sóng:

Thời lượng tiếp âm, phát sóng đảm bảo tối thiểu 180 phút/3 lần/ngày. Cơ cấu thời lượng chương trình đảm bảo 70% thời lượng dành cho tiếp sóng đài cấp trên, 30% thời lượng dành cho chương trình phát thanh, bản tin, thông tin, thông báo của địa phương. UBND huyện, thành phố quy định thời lượng tiếp âm, phát sóng cho Đài Truyền thanh cơ sở tùy thuộc vào đặc điểm của từng địa phương”.

2. Về tiếng ồn được quy định tại Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về tiếng ồn (QCVN 26:2010/BTNMT) của Thông tư số 39/2010/TT-BTNMT ngày 16/12/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường, cụ thể:

“Các nguồn gây ra tiếng ồn do hoạt động sản xuất, xây dựng, thương mại, dịch vụ và sinh hoạt không được vượt quá giá trị quy định tại Bảng 1:

Bảng 1 - Giới hạn tối đa cho phép về tiếng ồn

(theo mức âm tương đương), dBA

TT
Khu vực
Từ 6 giờ đến 21 giờ
Từ 21 giờ đến 6 giờ
1
Khu vực đặc biệt
55
45
2
Khu vực thông thường
70
55

 

Đối chiếu với các quy định hiện hành đã nêu ở trên và nội dung trả lời trước đó, đề nghị ông Lê Tiến Sỹ liên hệ trực tiếp với Ủy ban nhân dân xã nơi đặt loa phát thanh hoặc Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Quảng Nam để có ý kiến về các vấn đề vướng mắc của ông.

Độc giả: Nguyễn Hoài Văn - Số 5/1/1/98 Vũ Trọng Phụng, Thanh Xuân, Hà Nội
ketoanthuevna@gmail.com

Kính gửi: Bộ Thông tin và Truyền thông

Chúng tôi là công ty tư vấn thuế và kế toán. Khách hàng của công ty chúng tôi có tiến hành các dịch vụ sau, Chúng tôi muốn hỏi các dịch vụ này có thuộc về dịch vụ phần mềm theo pháp luật hiện hành về thông tin truyền thông hay không. Các dịch vụ khách hàng chúng tôi thực hiện cụ thể như sau:

1 Khảo sát phần cứng: máy chủ, lưu trữ, kết nối mạng, phương án cài đặt.

- Lên phương án cài đặt và kết nối hệ thống.

2.  Cài đặt trên máy chủ quản trị

-  Cài đặt phần mềm trên máy chủ quản trị

-  Cài đặt phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu trên máy chủ quản trị

-  Đặt địa chỉ IP quản trị, tài khoản và mật khẩu theo yêu cầu của ABC.

- Kết nối và thiết lập thông số cho các module phần mềm trên máy chủ theo yêu cầu của ABC, tiến hành kiểm tra hoạt động.

3. Cài đặt trên client

- Tạo các zone cho client.

-  Đấy bộ cài agent đến cho các client.

-  Phân loại các client theo yêu cầu của ABC.

-  Kiểm tra hoạt động của hệ thống

-  Kiểm tra tính sẵn sàng của các cấu phần hệ thống

4. Chuyển dữ liệu từ hệ thống cũ sang hệ thống mới

- Chuyển toàn bộ cơ sở dữ liệu thiết bị từ hệ thống cũ sang hệ thống mới theo yêu cầu của ABC

-  Khai báo và tuỳ chỉnh thông tin theo yêu cầu của ABC

-  Kiểm tra và đảm bảo dữ liệu đã được chuyển đổi toàn bộ sang hệ thống mới

5.  Thiết lập trên hệ thống mới

- Khai báo toàn bộ dữ liệu tài sản công nghệ thông tin hiện tại của ABC lên hệ thống mới

- Cập nhật thông tin tài sản theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập thông số gửi cảnh báo về tình trạng tài sản theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập Dashboard về thông tin tài sản theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập hệ thống báo cáo định kỳ về tài sản theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập các thông số tạo, đẩy OS theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập các thông số tạo, đấy update patch theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập các thông số tạo, đẩy phần mềm theo yêu cầu của ABC

- Thiết lập thông số để client boot qua mạng trên hệ thống

- Cấu hình thiết lập thông số cho các module của hệ thống theo yêu cầu của ABC.
- 24 ngày trước
Trả lời:

Cục Công nghiệp Công nghệ Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Khung pháp lý hiện hành để xác định dịch vụ phần mềm được quy định tại Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 của Chính phủ về công nghiệp CNTT, cụ thể:

- Khái niệm dịch vụ phần mềm: Khoản 10 Điều 3 Nghị định số 71/2007/NĐ-CP ngày 03/5/2007 của Chính phủ về công nghiệp CNTT quy định “Dịch vụ phần mềm là hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ việc sản xuất, cài đặt, khai thác, sử dụng, nâng cấp, bảo hành, bảo trì phần mềm và các hoạt động tương tự khác liên quan đến phần mềm”.

- Phân loại dịch vụ phần mềm: Khoản 3 Điều 9 Nghị định số 71/2007/NĐ-CP quy định các loại dịch vụ phần mềm bao gồm:

“a) Dịch vụ quản trị, bảo hành, bảo trì hoạt động của phần mềm và hệ thống thông tin;

b) Dịch vụ tư vấn, đánh giá, thẩm định chất lượng phần mềm;

c) Dịch vụ tư vấn, xây dựng dự án phần mềm;

d) Dịch vụ tư vấn định giá phần mềm;

đ) Dịch vụ chuyển giao công nghệ phần mềm;

e) Dịch vụ tích hợp hệ thống;

g) Dịch vụ bảo đảm an toàn, an ninh cho sản phẩm phần mềm, hệ thống thông tin;

h) Dịch vụ phân phối, cung ứng sản phẩm phần mềm;

i) Các dịch vụ phần mềm khác”.

Do vậy, đề nghị Công ty hướng dẫn khách hàng, căn cứ vào các quy định trên và hoạt động cụ thể mà doanh nghiệp thực hiện đối với mỗi dịch vụ để xác định có phải dịch vụ phần mềm hay không.

Độc giả: Phan Bảo Tuấn - Cần Thơ
tuantop7532@gmail.com

Trích trong khoản b khoản 2 Điều 5 thông tư Số: 13/2020/TT-BTTTT

"Gửi, cập nhật thông tin về sản phẩm phần mềm, công đoạn trong hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng quy trình, mức thuế được khấu trừ về Bộ Thông tin và Truyền thông (Vụ Công nghệ thông tin) để tổng hợp"

Cho tôi hỏi thủ tục để gửi và cập nhật thông tin về sản phẩm phần mềm để được đáp ứng quy trình của Bộ Thông tin và Truyền thông.

- 24 ngày trước
Trả lời:

Cục Công nghiệp Công nghệ Thông tin và Truyền thông (Bộ Thông tin và Truyền thông) giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

- Về thủ tục: Doanh nghiệp làm báo cáo các thông tin theo quy định tại khoản b khoản 2 Điều 5 thông tư số 13/2020/TT-BTTTT. Sau đó, gửi báo cáo tới địa chỉ Cục Công nghiệp công nghệ thông tin và Truyền thông (trước đây là Vụ Công nghệ thông tin) – Bộ Thông tin và Truyền thông, 18 Nguyễn Du – Hai Bà Trưng – Hà Nội.

- Về mẫu biểu báo cáo: Doanh nghiệp có thể tham khảo mẫu biểu có  tại địa chỉ sau để làm báo cáo: Makeinvietnam.mic.gov.vn (Biểu mẫu số 4).

- Về tần suất gửi báo cáo, khi có sự thay đổi trong hoạt động sản xuất kinh doanh (như có dự án đầu tư sản xuất sản phẩm phần mềm mới, thay đổi doanh thu, thay đổi mức độ ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đang áp dụng,…), doanh nghiệp cần gửi báo cáo về Bộ Thông tin và Truyền thông. Thông thường, hoạt động của doanh nghiệp có biến động theo hàng năm (ví dụ như thay đổi về doanh thu và mức thuế được khấu trừ) nên doanh nghiệp cần gửi báo cáo 1 lần/năm.

Độc giả: Nguyễn Hữu Hùng - Phường Trường Thi, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa
sakekhoa@gmail.com

 Tôi xin hỏi theo Thông tư 24/2020/TT-BTTTT ngày 09/9/2020 của Bộ thông tin và Truyền quy định quy định về công tác triển khai, giám sát công tác triển khai và nghiệm thu dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước. Tại các Mẫu số 3. Biên bản hiện trường, Mẫu số 4. Biên bản kiểm tra, Mẫu số 5. Biên bản nghiệm thu kỹ thuật, Mẫu số 6. Biên bản nghiệm thu, bàn giao sản phẩm hoặc hạng mục công việc của dự án kèm theo Thông tư đểu có Đại diện theo pháp luật của đơn vị tư vấn thiết kế (nếu có)(ở đay dự án có đơn vị tư vấn thiết kế).

Vậy cho tôi hỏi đơn vị tư vấn thiết kế đều phải ký vào tất cả các biên bản trên. Đối với các dự án triển khai ở diện rộng phạm vi quy mô toàn tỉnh, hoặc toàn quốc có đến hàng nghìn đơn vị thụ hưởng thì có phù hợp không? Bởi đơn vị thiết kế không thể đi theo dự án đến các điểm thụ hưởng để ký tất cả các biên bản này. Nếu đơn vị thiết kế ký vào các biên bản này mà không đi theo thì là ký khống hồ sơ. Đi cùng dự án khác nào đơn vị thiết kế giống như đơn vị giám sát. Đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông trả lời rõ về thông tư này. Đồng thời nếu không hợp lý đề nghị Bộ có văn bản hướng dẫn hoặc sử đổi bổ sung Thông tư để các đơn vị triển khai đúng quy định, không chồng chéo, không làm khó các đơn vị tư vấn và chủ đầu tư trong các biểu mẫu biên bản. Đồng thời theo Quyết định 2378/QĐ-BTTTT và Quyết định 1688/QĐ-BTTTT đều có hướng dẫn lập chi phí giám sát xây dựng phần mềm nội bộ. Nhưng đối với thông tư 24/2020/TT-BTTTT không hướng dẫn mẫu biểu hay nói gì đến việc giám sát phần mềm nội bộ. Vật xin hỏi quý Bộ có xây dựng dự toán chi phí giám sát phần mềm nội bộ không? nếu có thực hiện giám sát theo thông tư hay mẫu biểu nào?

 Xin cảm ơn!

- 24 ngày trước
Trả lời:

Cục Chuyển đổi số Quốc gia (Bộ Thông tin và Truyền thông) trả lời thắc mắc của bạn như sau:

1. Về việc tham gia của đơn vị tư vấn thiết kế

Căn cứ quy định tại Điều 8 Thông tư 24/2020/TT-BTTTT ngày 09/9/2020 của Bộ thông tin và Truyền thông quy định quy định về công tác triển khai, giám sát công tác triển khai và nghiệm thu dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước, đơn vị tư vấn lập thiết kế có trách nhiệm thực hiện các nội dung giám sát tác giả, trong đó có việc tham gia nghiệm thu khi có yêu cầu của chủ đầu tư.

Tại các mẫu biểu số 3, 4 có nêu thành phần tham gia là đại diện đơn vị tư vấn thiết kế (nếu có), do đó, trường hợp chủ đầu tư có yêu cầu cần sự tham gia của tư vấn thiết kế thì đơn vị tư vấn thiết kế ký vào mẫu biểu đó.

Tại các mẫu biểu số 5, 6 về nghiệm thu, khi chủ đầu tư có yêu cầu đơn vị tư vấn thiết kế tham gia nghiệm thu nội dung công việc nào thì đơn vị tư vấn thiết kế ký vào biên bản nghiệm thu đó.

Như vậy, đơn vị tư vấn thiết kế nếu có tham gia vào công việc nào thì ký vào các biên bản, mẫu biểu tương ứng đó.

2. Về việc giám sát triển khai xây dựng phần mềm nội bộ

Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 32 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP ngày 05/9/2019 của Chính phủ quy định quản lý đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước: “Các dự án đầu tư trong quá trình triển khai xây lắp, lắp đặt hệ thống hạ tầng kỹ thuật, cài đặt phần mềm, hiệu chỉnh vật tư, thiết bị phải được thực hiện chế độ giám sát công tác triển khai”;

Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư số 24/2020/TT-BTTTT ngày 09/9/2020 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về côngtác triển khai, giám sát công tác triển khai và nghiệm thu dự án đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng nguồn vốn ngân sách nhà nước: “Các dự án trong quá trình triển khai xây lắp, lắp đặt hệ thống hạ tầng kỹ thuật, thiết bị (bao gồm hiệu chỉnh vật tư, thiết bị), cài đặt phần mềm phải thực hiện chế độ giám sát công tác triển khai theo quy định tại Điều 32 Nghị định số 73/2019/NĐ-CP. …”.

Như vậy, không quy định bắt buộc thực hiện giám sát đối với việc xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ. Tùy theo quy mô, tính chất của phần mềm nội bộ, trong trường hợp cần thiết, chủ đầu tư có thể báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định có giám sát công tác triển khai đối với việc xây dựng, phát triển, nâng cấp, mở rộng phần mềm nội bộ hay không.

3. Về việc xác định chi phí giám sát xây dựng phần mềm nội bộ

Trường hợp thực hiện giám sát, chủ đầu tư nghiên cứu Quyết định số 1688/QĐ-BTTTT ngày 11/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 2378/QĐ-BTTTT 30/12/2016 về việc công bố định mức chi phí quản lý dự án, chi phí tư vấn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin sử dụng ngân sách nhà nước để xác định chi phí. Trường hợp không thực hiện giám sát thì không tính chi phí này trong tổng mức đầu tư của dự án.

 

 
Độc giả: Nguyễn Thị Thùy Dung - khu 6, Yên Mạc, Liên Mạc, Mê Linh, Hà Nội
thuydung0979087717@gmail.com

Tôi đã kê khai và gửi bản khai: Đăng ký TÊN ĐỊNH DANH 

Hiện tại đã nhận được thông báo của Admin hệ thống cập nhật trạng thái: Đã xử lý xong 

Vậy tiếp theo tôi phải làm những gì? Liên hệ với số điện thoại nào để được hướng dẫn làm các thủ tục tiếp theo?

(Ps: đã gọi rất nhiều số nhưng bộ phận nào cũng báo ko biết......tôi cần hỗ trợ gấp ạ vì rất nhiều người đang ở trong trạng thái chờ đợi và ko biết phải gọi số nào để được hỗ trợ thông tin)

Trân trọng!

- 27 ngày trước
Trả lời:

Cục An toàn Thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông) giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Theo quy định, đối với các hồ sơ nộp trên Hệ thống dịch vụ công, Cục An toàn thông tin sẽ thực hiện trả kết quả trên hệ thống dịch vụ công.

Để cập nhật thông tin về kết quả của Thủ tục hành chính Cấp Giấy chứng nhận tên định danh nộp trên Cổng dịch vụ công của Bộ Thông tin và Truyền thông, Quý Độc giả vui lòng đăng nhập vào hệ thống để xem được văn bản thông báo kết quả của mình.

Quý Độc gia có thể tham khảo Hướng dẫn sử dụng tại địa chỉ https://dichvucong.mic.gov.vn/huong-dan để biết cách thao tác với hệ thống. Tại Hướng dẫn sử dụng nêu trên đã có đầy đủ thông tin về các bước thực hiện đăng ký tài khoản, nộp hồ sơ, tra cứu thông tin hồ sơ, xem văn bản yêu cầu bổ sung, thực hiện bổ sung hồ sơ, …

Trong trường hợp cần hỗ trợ, Quý Độc giả có thể gọi tới số hotline 033.903.5656 để được giải đáp.

Độc giả: Thai - Vĩnh Yên
camerathaidung@gmail.com

Kính gửi Bộ TT&TT.

Điều 19. Điều khoản chuyển tiếp

1. Chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành thông tin và truyền thông đã cấp có giá trị sử dụng tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành tương ứng quy định tại Thông tư này.

Theo điều 19, thông tư 13/2022/TT-BTTTT. Vây cho tôi hỏi đã học phóng viên hạng III khi thi thăng hang II không phải học chức danh phóng viên theo thông tư mới nữa đúng không? Tương tự đã học phóng viên hạng II thi thăng hạng I không phải học bồi dưỡng nữa đúng không? Và còn trường hợp đã học phóng viên hạng III mà không học hạng II thi thăng hạng I thì có phải học lại nữa không?

Xin cám ơn.

 

 

- 27 ngày trước
Trả lời:

 Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Thông tin và Truyền thông) giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

1. Căn cứ Nghị định 89/2021/NĐ-CP ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức có quy định cụ thể như sau:

- Mỗi tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành có 01 chương trình, tài liệu bồi dưỡng quy địnhtại khoản 4 điểm 4 Sửa đổi Điều 17.

- Điều kiện chuyển tiếp đối với “Cán bộ, công chức, viên chức có chứng chỉ hoàn thành các chương trình bồi dưỡng quy định tại khoản 3, khoản 4, khoản 5, khoản 6, khoản 7 Điều 17 Nghị định số 101/2017/NĐ-CP hoặc đã được bổ nhiệm vào chức vụ, ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức trước ngày 30 tháng 6 năm 2022 thì không phải tham gia các chương trình bồi dưỡng tương ứng theo quy định của Nghị định này” quy định tại điểm 3 Điều 2.

2. Căn cứ Thông tư số 13/2022/TT-BTTTT ngày 26 tháng 8 năm 2022 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và xếp lương đối với viên chức Biên tập viên, Phóng viên, Biên dịch viên và Đạo diễn truyền hình, một trong các yêu cầu về tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng là viên chức cần có chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức chuyên ngành phù hợp với chức danh nghề nghiệp được bổ nhiệm.